Tất cả đều mang tính suy luận hay lý thuyết. Người ta có thể xem xét những cuốn sách khác nhau về cùng một lĩnh vực để so sánh và đưa ra nhận xét thứ tự. Việc viện đến các yếu tố đặc trưng thường kém thuyết phục hơn, nhưng lại có thể giải thích các quy tắc cặn kẽ hơn so với việc lấy ví dụ về việc sử dụng các quy tắc.
Ba quy tắc đọc phân tích về thuật ngữ, nhận định và lập luận nêu trên đều nhằm phục vụ cho quy tắc 8 - bước cuối cùng trong quá trình làm sáng tỏ nội dung một cuốn sách. Như đã nói ở phần đầu, phương pháp đọc trình bày trong cuốn sách này có thể áp dụng được với mọi loại tài liệu bạn phải đọc hay muốn đọc. Còn tác phẩm giả tưởng thường chia sẻ những trải nghiệm - những điều mà người đọc chỉ có thể có bằng cách đọc tác phẩm.
Có thể anh ta chưa biết điều này cụ thể là gì, phải đợi đến mức đọc cao hơn mới rõ, nhưng anh ta đã biết được một trong hai điều: hoặc là cuốn sách này hay, đáng để đọc hoặc là nó không mang lại hiểu biết mới mẻ nào về vấn đề nên dù có lý thú hay nhiều thông tin đến đâu cũng không nên đọc nó làm gì. Nếu toàn bộ một cuốn sách là ngữ cảnh cho từng phần của nó, thì những cuốn sách liên quan sẽ mang đến một ngữ cảnh lớn hơn giúp bạn cảm thụ được cuốn sách bạn đang đọc. Việc lồng ghép các ẩn dụ thường làm cho nội dung tác phẩm có thêm nhiều lớp nghĩa chứ không chỉ nằm trong các từ ngữ viết nên tác phẩm.
Cuốn sách tồi chống lại mọi nỗ lực phân tích của bạn. Ngữ pháp và logic gắn kết với ngôn ngữ nhờ mối liên hệ với tư duy, và gắn kết với tư duy nhờ mối liên hệ với ngôn ngữ. Điều đó có nghĩa là đọc càng tích cực càng tốt, và bạn phải nỗ lực - sự nỗ lực mà bạn hy vọng sẽ được đền đáp lại.
Đặc biệt, nó dành cho những ai đọc sách với mục đích chính là mở rộng tầm hiểu biết của mình. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến các tác phẩm lý thuyết trong triết học như các chuyên luận hay tác phẩm siêu hình về triết lý của tự nhiên. Rõ ràng sự thiếu nhất quán của một triết gia là một điều nghiêm trọng.
Một cuốn sách đơn thuần để giải trí chỉ là thú tiêu khiển lúc rỗi rãi và ngoài giải trí ra, bạn không thể nhận thêm được gì từ nó. Dù diễn xuôi hay diễn bằng câu mệnh lệnh, bạn vẫn có thể nhận ra đó là một quy tắc vì nó khuyên bạn cần phải làm điều nên làm. Ví dụ, niềm vui thích cực độ của nhiều thế hệ học sinh trung học khi đọc kịch của Shakespeare bị tiêu tan khi họ buộc phải tra từ điển tất cả các từ vựng mới, và học hết các chú thích uyên thâm.
Có một điều đáng ngạc nhiên là rất nhiều người chẳng bao giờ ngó đến mục lục trừ phi họ phải tìm một phần nào đó, trong khi tác giả đã phải dành nhiều thời gian để xây dựng phần này rất công phu. Nếu bạn nghĩ chỉ có tác giả nói còn bạn thì hoàn toàn im lặng, tức là bạn đã không nhận thức đúng nhiệm vụ của một độc giả và không nắm bắt cơ hội cho chính mình. Đa số họ chỉ chuyên tâm vào các câu hỏi hạng hai và thường là những câu liên quan đến ngôn ngữ diễn đạt suy nghĩ.
Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu đã cho ra đời các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy đọc với nhiều cách thức tiếp cận mới. Khi bạn áp dụng quy tắc này và ba quy tắc trước đó, chắc chắn bạn sẽ hiểu được nội dung cuốn sách. Mặc dù, nó phù hợp với sân khấu và hữu ích trong triết học nhưng hình thức đối thoại như vậy không phù hợp trong khoa học.
Từ kiến thức ở đây có phạm vi ý nghĩa rất rộng, bạn có thể thay thế nó bằng quan điểm hay định kiến sẽ tốt hơn. Hầu hết, chúng ta không quen làm việc này. Điều này khiến cho triết học hiện đại rất khó đọc đối với các độc giả không chuyên.
Đó là vì lịch sử bao gồm cả sự hư cấu và tính khoa học. Nếu có nhiều nghĩa, hãy tìm xem các nghĩa đó liên hệ với nhau như thế nào. Một ví dụ khác là về Aristotle.