Bởi vậy, khi đọc kịch bạn cần: Sau khi luyện tập, vẫn công việc như trước nhưng bạn có thể làm tốt hơn nhiều so với lần đầu. Các tác giả và tác phẩm khác nhau sẽ giúp người đọc mài giũa khả năng đọc hiểu mỗi phần.
Đây là quy tắc quan trọng hơn cả và là bản chất của cấp độ đọc kiểm soát. Đồng thời nó phải có thêm phần dàn ý chính là mục lục. Hai quy tắc 2 và 3 còn được dùng để phân biệt sách hay và sách dở.
Cuốn Brave New World (Thế giới mới can đảm) của Aldous Huxley lại là một tác phẩm đầy tính hùng biện khi chỉ trích những mặt trái của các tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, chúng tôi có thể nêu một ví dụ về sự sai làm hiển nhiên trong tác phẩm Quân vương của Machiavelli dưới đây. Nhà thơ Mark Van Doren từng nói: Trong thơ ca và kịch, mỗi câu chỉ là một phương tiện truyền đạt tối nghĩa hơn.
Bạn hãy đọc phần định lý và xem qua phần chứng minh để nắm ý chính. Bài thơ cũng viết về mối xung đột giữa tình yêu và thời gian, mặc dù từ thời gian không hề xuất hiện trong bài. Những cuốn sách hay nhất là những cuốn có cấu trúc dễ hiểu nhất.
Có thể là do cấu trúc sách lộn xộn, các phần trong sách không được liên kết với nhau, một số phần không hợp lý, hoặc tác giả đã phóng đại quá nhiều khi sử dụng những từ ngữ thậm xưng, gây ra hàng loạt tình tiết khó hiểu. Cũng giống như tác phẩm văn chương, hầu hết độc giả có thể nhận ra một tác phẩm khoa học ngay khi nhìn thấy nó. Có lúc, nghĩa của một trong nhiều đoạn đối nghịch nhau trích từ các cuốn sách khác nhau được nêu bật lên khi chúng được đọc theo từng cặp đối nhau.
Cấp độ đọc thứ ba chúng tôi gọi là đọc phân tích. Phần thảo luận này gợi ý cho bạn về hai câu hỏi lớn mà bạn phải tự hỏi bản thân khi đọc bất kỳ loại sách thực hành nào. Liệu tác giả có dụng ý châm biếm không khi ông cho nhân vật của mình nói về chủ đề? Nói chung, người đọc phải rất nỗ lực để thấu hiểu ý đồ của tác giả trước khi quyết định đặt một tác phẩm hư cấu vào mặt này hay mặt kia của vấn đề.
Lẽ ra, giáo viên phải khuyến khích họ đọc hết vở kịch một lần, và thảo luận về những gì họ hiểu được sau lần đọc lướt đầu tiên ấy. Vì cụm từ là một tập hợp từ, trong đó mỗi từ lại tạo nên ngữ cảnh cho các từ khác nên các từ đơn lẻ có xu hướng bị giới hạn về nghĩa. Có nguyên nhân sâu xa nào khó nhìn ra trên bề mặt của điều này? Vì câu hỏi rất khó nên ngay cả khi đã trả lời được, liệu ta có thể khẳng định là mình đã xác định đúng thế nào là cùng chủ đề không?
Khi viết sách thực hành, tác giả nào không nhận ra điều này thì nội dung sách sẽ không hiệu quả. Nhưng một phóng viên dù không thuật lại những điều anh ta cho là giả dối vẫn có thể có nhầm lẫn. Từ lâu, chúng tôi đã biết rằng các khoá dạy đọc tốc độ đã tận dụng đúng mức sự thật là hầu hết mọi người toàn đọc thầm sau lần đầu tiên được dạy đọc.
Hầu hết mọi người được dạy là phải chú ý đến những điều mình không hiểu; phải tra từ điển khi gặp lại những từ lạ; tìm trong sách tham khảo nếu gặp những nhận định khó hiểu; tìm sự trợ giúp ở phần ghi chú, giải thích của các học giả hay các nguồn hỗ trợ khác… nhưng nếu vội vàng làm những điều này thì chúng chỉ ngăn cản chứ không giúp gì cho việc đọc của chúng ta. Vấn đề nằm ở chính việc gạt bỏ hoàn toàn các câu hỏi triết học hạng nhất vốn rất được độc giả bình thường quan tâm. Đây là một hoạt động phức tạp hơn, những cũng hệ thống hơn hai cấp độ trước.
Một bài diễn văn, một bài phát biểu mang tính chính trị, hay lời kêu gọi hành động chứa đựng những nội dung thuyết phục bạn nên làm gì và nên cảm thấy như thế nào về một sự việc đó. Khi thiếu những kiến thức cần thiết, chúng ta không thể giải quyết được những vấn đề nhất định, hoặc không thể chứng minh cho các kết luận nhất định. Có ít nhất năm cách trình bày phương pháp triết học được các nhà triết học vĩ đại của phương Tây sử dụng.